Trung hoc Nông Lâm Súc CẦN THƠ- Quyển 5 _Trung hoc Nông Lâm Súc CẦN THƠ- Quyển 5_Trung hoc Nông Lâm Súc CẦN THƠ- Quyển 5_Trung hoc Nông Lâm Súc CẦN THƠ- Quyển 5_Trung hoc Nông Lâm Súc
 
thnlscantho-5
QUYỂN 5  
  TRANG CHỦ
  TIN TỨC
  THÔNG BÁO
  TRANG KHOA HỌC
  => Cuộc đời và di huấn của nữ thiền sư
  => Năm dê nói chuyện mèo
  => 31 ngày rong chơi... 170 -171
  => Cây sơ ri Gò Công
  => Tái cơ cấu sản xuất lúa gạo VN
  => Nhà sáng chế laser Charles Townes qua đời
  => Tai nạn hạt nhân
  => Bệnh tiểu đường
  => Dỏm khắp mọi nơi
  => Ba cái chuyện ruồi bu kiến đậu
  => Thế giới thực vật quanh ta
  => Mừng ngày quốc tế phụ nữ
  => Chúng ta không còn nơi nào ẩn núp
  => Rèn luyện kiến tạo nguyên tố mới
  => Chỉ là một chuyến đi
  => 31 ngày rong chơi...172-173
  => 31 ngày rong chơi...174-175
  => Những sách nói về Châu Á..
  => Từ sữa bò đến sữa người
  => Thất bại đa văn hóa
  => Thực phẩm và phóng xạ
  => 31 ngày rong chơi... 176-177
  => 31 ngày rong chơi...178-179
  => Biết rõ hơn đôi chút...
  => Bonjour Việt Nam
  => Ứng dụng vàng trong y khoa
  => Chó tây chó ta
  => Hảy trân quý cuộc sống ngày hôm nay
  => Tóc tơ vàng
  => Thời trang Paris
  => 31 ngày rong chơi..180-181
  => 31 ngày P 182-183
  => Tình trạng chạy đua vũ khí..
  => Máy gia tốc hạt nhân
  => Có nên ăn chay hay không
  => 31 ngày rong chơi..184-185
  => Dồn điền đổi thửa ở Miền Trung và ĐBCL
  => Xử dụng kim loại đất hiếm
  => Bệnh than kinh niên
  => 31 ngày P 186-187
  => Nói láo hay nói thiệt
  => Tiến bộ ở ngành sinh học
  => Dồn điền đổi thửa Miền Trung
  => 31 ngày rong chơi 188-189
  => Cọ dừa Oil palm
  => Đăng cay ngọt bùi mùa phục sinh
  => Phát minh khoa học... P1
  => 31 ngày lang thang P 190-191
  => Du khách mang siêu khuẩn..
  => 31 ngày rong chơi 192-193
  => Ngừa ung thư tùy thuộc
  => Hiểu thế nào là Cửu huyền
  => Kỳ thị chủng tộc tại Canada
  => Vỏ khí hạt nhân - P 1
  => Vỏ khí hạt nhân . Phần 2 và 3
  => Phát minh khoa học từ bắt chước ... P2
  => 31 ngày P 194-195
  => Phải chăng chuyện động đất...
  => Thời trang Cali năm 2015
  => Nỗi khổ của phiến quân...
  => 31 ngày rong chơi 196-197
  => Mục và súc khác nhau thế nào
  => Tản mạn về tôm hùm Bắc Mỹ
  => Đã và sướng gì đâu
  => Anh hùng kín đáo...
  => Dã man, tàn nhẫn...
  => Nước và con người P1
  => Discreet hero - Vargas Llosa
  => 31 ngày P 198-199
  => Khi Bác sỷ bị ung thư não
  => Kỹ thuật sinh học Crispr
  => Nuôi dế làm thịt bíp tết
  => Chuyện ngày về
  => 31 ngày rong chơi miền Đất Phật. P 200-201
  => Xử dụng nọc độc nhện
  => Nước và con người P2
  => 31 ngày P202-203
  => Học trường quản trị...
  => Xém chết vì rượu
  => Nghiên cứu phát triển Phú Quốc
  => 31 ngày rong chơi...204-Hết
  => Tìm hiểu sinh thái nhân văn
  => Động đất tại Nepal
  => Tiến bộ khoa học - Phần 2
  => Chó và người
  => Chào đón ngày lễ Mẹ
  => Ông uông bà chê
  => Bình thường mới ở Trung Quốc
  => Phim Cô Bé Lọ Lem
  => Cải tổ đại học ở Trung quốc
  => Chấm dứt cải cách ở TQ ?
  => Vô thường - Vô ngã
  => Thách thức thực sự...
  => Khi cao niên mất ngủ
  => Bí mật về xác ướp thú vật ở Ai Cập
  => Chấm dứt cải cách ở Trung Quốc - P2
  => Đụng tường
  => Nướng vỉ, nướng sắt và hội chứng BBQ
  => Thách thức thực sự ở Thái Bình Dương
  => Trường sinh bất tử
  => Ăn nhiều muối và bệnh tăng huyết áp
  => Vùng thiên nhiên Bình Trị Thiên...
  => 20 điều biết hơn..
  => Thư của GS Tôn Thất Trình
  => Hoa Kỳ khảo cứu...
  => Vần đề chủng tộc ở Trung Quốc
  => Bán ảo tưởng
  => Trận động đất sắp tới xảy ra ở đâu
  => VN muốn mua ...
  => Bia Việt Nam - Phần 1
  => Ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn Listeria
  => Tại hải ngoại dân nghỉ hưu hay làm gì?
  => Bệnh kém trí nhớ
  => Thuốc kháng sinh
  => Khi cơm chẳng lành canh chẳng ngọt
  => Bia Việt Nam - Phần 2
  => Non cao tuổi vẫn chưa già
  => Tìm hiểu về loài ong
  => Những bộ mặt mới về năng lượng ở Hoa Kỳ năm 2015
  => Thế giới loài hoa trong thi ca Việt
  => Tìm hiểu loài ong - Phần 2
  => Vui buồn ngày Lễ Cha
  => Một người cha tuyệt vời
  => GS Robert Barone
  => Bệnh cảm
  => Nguyên tố Uranium
  => Những bộ mặt mới ... Phần 2
  => Sức khỏe trong tay bạn
  => Khi tui nấu tui ăn
  => Bệnh cúm
  => Mừng hụt
  => Mồ hôi
  => Fast food hay fat food
  => Ngành khoa học dữ liệu
  => Sáu giờ ba mươi
  => Sao Diêm Vương
  => Báo Đất Việt phỏng vấn TS Trần Văn Đạt
  => Bệnh đậu mùa
  => Hội chứng viêm phổi Trung Đông Mers-CoV
  => Chất béo Trans rất nguy hiểm cho sức khỏe
  => Cha mẹ già hải ngoại
  => Chiến tranh tương lai - Phần I
  => Bệnh lao
  => Thịt chó thịt mèo
  => Chiến tranh tương lai - Phần 2
  => Việt Ba lô trên miền đất lạ
  => Bệnh Si đa
  => Tìm hiểu về loài ong - Phần 3
  => Bớt ăn thịt là tốt nhất
  => Sức mạnh mềm của Trung Quốc - Phần 1
  => Bệnh phong đòn gánh
  => Người Việt trồng lúa tại Camargue Pháp
  => Sinh tố B12
  => Cái ngàn vàng của cọp đực
  => Bệnh sốt rét tê liệt
  => Sức mạnh mềm Trung quốc -- Phần 2
  => Tôi có một ước mơ
  => Vợ chồng già lớp tuổi 70
  => Hố đen trong vũ trụ
  => Nội, Ngoại Mông ngày nay
  => Bệnh quai hàm
  => Chuyện khó nói của con kiki
  => Nước Lào ngày nay
  => Nghiện ngập - Phần I
  => Trai hay gái
  => Kiếp tha hương
  => Thèm chất ngọt và bệnh tiểu đường
  => Lycopene trong tomato là gì?
  => Dầu mỡ và sức khỏe
  => Du lịch Canada
  => Hip-hop - P 1
  => Bệnh ban đỏ
  => Nghiện ngập. Phần 2
  => Trời u ám
  => Hip-hop. Phần 2
  => Bệnh ho gà
  => Chúng ta biết gì về Pluto
  => Động đất cấp 9.2
  => Bễ mánh rồi
  => Nước Cam Bốt ngày nay
  => Thèm cơm
  => Bệnh sốt xuất huyết
  => Thời tiết bất thường năm 2015
  => Chúng ta biết gì về hành tinh Kepler-452b
  => Cam bốt ngày nay - Phần 2
  => Uống sữa bò có tốt cho sức khỏe không?
  => Niềm vui cao niên
  => Bệnh dịch tả
  => Hoa dại làm mù lòa
  => Thái Lan ngày nay - Phần I
  => Bệnh giun chỉ
  => Bệnh tâm thần
  => Bệnh nói láo
  => Bệnh đau gan C
  => Bàn tay lông lá của tập đoàn kỹ nghệ thực phẩm
  => Giải quyết lương thực trong hiện tại và tương lai
  => Nước Thái Lan ngày nay - Phần 2
  => Bệnh sốt Đức Rubella
  => Khuyên đừng uống rượu
  => Súp Vi Cá
  => Giải quyết lương thực ... Phần 2
  => Mã Lai Á ngày nay
  => Đời đẹp như mơ
  => Vai trò của sinh tố trong cơ thể
  => Mùa vu lan
  => Tôi phạm tội sát sanh trợ tử thú y
  => Giải quyết lương thực. Phần 3
  => Mã Lai Á ngày nay - Phần 2
  => Singapore ngày nay - P 1
  => Nhà máy phát điện không thải khí nhà kiếng
  => Gai cột sống
  => Mí mắt sụp một bên
  => Cẩn thận với thuốc thiên nhiên
  => Singapore ngày nay - P 2
  => Du Lịch Thánh địa
  => Bệnh Multiple Myeloma
  => Bệnh ngứa của người bơi lội
  => Đưa em lên đỉnh tuyệt vời
  => Chúng ta có thể đảo ngược lão hóa được không?
  => Lạm bàn phát triển tỉnh Đồng Nai - Biên Hòa
  => Thánh Địa Indein
  => Bệnh tuyến giáp trạng
  => Dược thảo và tác dụng phụ nguy hiểm
  => Nam nữ bình quyền
  => Long An - Phần I
  => Bệnh Paget
  => Trở lại Kalaw, Mayamar
  => Trồng nho độc đáo trên đất núi lửa
  => Việt nam trước nguy cơ nước biển dâng cao
  => Chuyện du học bằng ghe
  => Nước biển đang dâng cao trầm trọng
  => Long An - Phần 2
  => Hải phòng xưa và nay
  => Cá tôm sò ốc ăn sống được không
  => Ung thư máu
  => Tìm hiểu về loài kiến
  => Obama và Á châu
  => Hiện có bao nhiêu cây rừng trên thế giới
  => Bệnh viêm gan B
  => Bệnh suyễn
  => Nhiệm vụ của phổi
  => Hạnh phúc đối diện tử sanh
  => Xã hội đen
  => Nạn phá rừng hiện nay trên thế giới
  => Nhức đầu
  => Bệnh lao bò
  => Ngày tàn của thuốc kháng sinh
  => Áp dụng biến đổi di truyền sản xuất thuốc trị ung thư
  => Chất béo trong máu
  => Nghĩ về tâm từ và nhân ái
  => Xã hội đen Nhật
  => Tại sao sâu keo bài tiết phân lên đọt bắp
  => Ho
  => Guayule
  => Không có chết, không có sợ
  => Hảy an nhiên trong tỉnh thức
  => Tảo xanh có thể trị mắt mù
  => Hảy nhìn Trung quốc Tập Cận Bình làm gì?
  => Xã hội đen Nhật - Phần 2
  => Bệnh thống phong
  => Palm oil và sự mất dần rừng nhiệt đới
  => Đạp xe, một cái mode đang lên tại hải ngoại
  => Trứng gà tại...
  => Uống cà phê chiều tối và giấc ngủ
  => Kỷ thuật - Technology ngày nay là gì đây ?
  => Bịnh Đính Xương
  => Virus influenza
  => Chồng giận thì vợ bớt lời
  => Thế giới chấm dứt phá rừng vào năm 2030
  => Kỷ thuật - Phần 2
  => Cần sa
  => Bệnh mắc toi
  => Ông đi đường ông, tui đường tui
  => Vua Quang Trung vị anh hùng dân tộc
  => Săn heo rừng ở Phi Châu
  => Bải biển Silicon Beach Nam Cali
  => Thoái vị của xương
  => Bác sỉ thú y nói chuyện về gạo
  => Nạn đói đang hoành hành thế giới do thất mùa
  => Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên - Mông
  => Mi Nô và tôi
  => Tương lai thực phẩm
  => Bệnh vẩy nến
  => An toàn vệ sinh thực phẩm trên thế giới, một ảo tưởng
  => Nắng mưa là bệnh của trời
  => Đổi đời
  => Nhớ về đồng nghiệp xưa
  => Tỉnh Vân Nam - Phần 1
  => Bệnh loãng xương
  => Lê Lợi đánh thắng quân Minh
  => Gió đã xoay chiều: cỏ ngọt Stevia
  => Chuyện tám trứng
  => Cỏ cây cũng biết phỉnh lừa
  => Sông ngòi Miền Trung
  => Tỉnh Vân Nam - Phần 2
  => Bệnh Giang mai
  => Trồng lúa cổ truyền - P 1
  => Về những phản hồi II
  => Áp dụng sinh học di truyền vào công nghệ thẩm mỹ
  => Chữ Tâm trong văn học Việt
  => Molly
  => Tình Quảng Tây - Phần 1
  => Trồng lúa cổ truyền - Phần II
  => Chuyện hưu nai
  => Tại sao động vật chọn sắc đẹp làm tiêu chuẩn chọn bạn tình
  => Tỉnh Quảng Tây - Phần II
  => Triệu chứng tiên khởi bệnh gan
  => Phát triển trồng lúa nước thời cỗ đại - Phần 1
  => Nhứt vợ nhì trời...
  => Khoa học có khả năng làm trẻ hóa con người
  => Con Thắm
  => Bản nhạc mùa hè
  => Tỉnh Quảng Đông - Phần 1
  => Bịnh tiểu đường
  => Trồng lúa nước thời cỗ đại - Phần 2
  => Cá salmon tại Bắc Mỹ
  => Phỉnh gạt để sinh tồn
  => Thần dược
  => Quảng Đông - Phần 2
  => Bệnh ung thư
  => Đông Tây Tam kiệt
  => Trồng lúa cỗ truyền thời Bắc Thuộc - P 1
  => Loài động vật thủ đoạn lưu manh
  => Hiện tượng thực phẩm chức năng
  => Xa kê Nhật ngày nay
  => Chập chờn bóng ma
  => Hai kiểu trang sức thiếu nữ Âu Mỹ thời nay - Phần 1
  => Ngôi nhà ma
  => Bệnh phong cùi
  => Trồng lúa cỗ truyền - Phần 2
  => Hai kiểu trang sức ... Phần 2
  => Tui làm "Chuyên Gia" ở Phi Châu
  => Tản mạn về thịt bò thịt trâu
  => Bình trữ điện
  => Bệnh tim
  => Bộ óc trẻ sáng lạng nhất năm 2015
  => Tui làm "Chuyên Gia" ở Phi Châu - P 2
  => Nên chọn thịt đỏ hay thịt trắng
  => Cầu Mỹ Lợi và kinh tế Gò Công
  => Bình trữ điện - Phần 2
  => Bệnh sốt rét
  => Bệnh giời ăn
  => Chào đón ngày tử tế 13 tháng 11
  => Phát triển trồng lúa cải tiến thời Pháp thuộc- P 1
  => Áp dụng siêu-vi-thể kim loại trong canh tác hoa màu
  => Tui làm "Chuyên Gia" - Phần 3
  => Pê Ru
  => Tuyến não thùy
  => Phát triển trồng lúa cải tiến thời Pháp thuộc - P 2
  => Về hưu mới thấy cuộc đời đáng yêu
  => Làm sao tế bào "nói chuyện" với nhau
  => Brooklyn
  => Từ căm thù chính mình đến hận thù kẻ khác
  => Medulla Oblongata
  => Khôi phục rừng ngập măn Kiên Giang
  => Ki Ki
  => Biến đổi khí hậu toàn cầu - P 1
  => Nước Miến Điện
  => Nhân biến cố Paris nghĩ về tâm an trong nghịch cảnh
  => Biến đổi khí hậu - Phần 2
  => Con chim con
  => Nước Miến Điện - Phần 2
  => Nhớ về xứ Mali
  => Tai biến mạch máu não
  => Muốn tới đâu thì tới
  => Biến đổi khí hậu - Phần 3
  => Nấm thông đỏ Nhật Bổn
  => Bạch huyết cầu
  => Thuốc phê captagon
  => Biến đổi khí hậu - Phần 4
  => Tại sao LA lại mất hết nhuệ khí kinh tế so với SF
  => Túi Mật..
  => Thế hệ sandwich VN tại hải ngoại
  => Tại sao đàn bà sống lâu hơn đàn ông?
  => Cập nhật vũ trụ
  => Cá hồi sửa đổi di truyền
  => Khuyến mãi xanh hay tẩy não xanh
  => Tại sao có nhiều bệnh xuất hiện theo mùa
  => Sản xuất lúa hiện đại - Phần 1
  => Dây thanh âm
  => Béo phì
  => Sản xuất lúa hiện đại - Phần 2
  => Nước lạnh nước mát tuyệt vời
  => Thuốc mới trị chứng đau nhức
  => Giấc mơ con đường tơ lụa mới
  => Trà sữa
  => Lúa gạo qua văn hóa dân gian
  => Tai hại của độc canh một giống thuần chủng
  => Vài câu chuyện tiến bộ kỷ thuật
  => Cái lưởi
  => Lúa gạo qua văn hóa dân gian - Phần 2
  => Nhà Tây Sơn
  => Tầm quan trọng của giáo dục và khuôn mẫu
  => Vài câu chuyện tiến bộ kỷ thuật ... Phần 2
  => Yếu tố môi trường gây ung thư
  => Con mắt
  => Thiên đường tại thế đâu xa
  => Chú Hai Nhân
  => Nhà Tây Sơn - Phần 2
  => Tiến bộ kỷ thuật - Phần 3
  => Làn da
  => Từng ngày một
  => Chừng nào cả vũ trụ nổ tan tành
  => Lúa gạo qua văn hóa dân gian - Phần 3
  => Rượu vang ngày nay
  => Tiệc tùng cuối năm ăn vô biết liền
  => Triễn vọng kỹ thuật năm 2016
  => Đôi môi
  => Mất ngủ
  => Bệnh tim mạch
  => Tiên đoán khí hậu năm 2016
  => Công ăn việc làm tương lai thế giới
  => Người Việt hải ngoại nghĩ gì về bệnh tiểu đường
  => El Nino ảnh hưởng vào đời sống như thế nào
  => Cập nhật hiểu biết "mới" từ năm 2016
  => Năng lượng cơ thể
  => Giấc Ngủ
  => Từ Darwin đến H5N1
  => Khả năng biến đổi hành vi qua ức chế gen
  => Cập nhật hiểu biết mới
  => tuổi trưởng thành
  => Norovirus trên du thuyền
  => Ảnh hưởng của El Nino vào sản xuất ngũ cốc
  => Dân Hoa Kỳ uống rượu thay thế sâm banh nào?
  => Công nghệ ô tô điện
  => Ung thư
  => Lúa gạo qua văn hóa - P4
  => Nước Úc - cập nhật
  => Tâm sự cuối năm
  => Vài khám phá mới cho nông nghiệp
  => Bệnh lẫn
  => Giấc mơ làm giàu
  => Bổ sung bảng hóa học tuần hoàn
  => Đừng nên uống bia....
  => Rượu và sức khỏe
  => Sản xuất và thương mại lúa gạo
  => Phát minh ở đầu thế kỷ 21
  => Lúa gạo qua văn hóa dân gian- P 7
  => Món mặn ngày xuân
  => Biến đổi khí hậu và con người
  => Bạn biết gì về Facebook. Phần 1
  => Ngừa ung thư bằng thực phẩm
  => Bạn biết gì về Facebook. Phần 2
  => Sông ngòi miền Cao Nguyên Việt Nam
  => Một kỷ niệm dạy Lịch Sử
  => Ung thư làm sụt cân
  => Burundanga là gì
  => Mẹo vặt tránh táo bón
  => Dinh dưỡng cơ thể
  => Chuyện tình Bìm và Bip
  => Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
  => Khoa học tiến bộ như thế nào trong 20 năm tới
  => Có những giấc mơ
  => Phải chăng đây là một chuyện giả tưởng
  => Tỏi
  => Vũ khí Laser của Hoa Kỳ
  => Chiến tranh và hòa bình của Leo Tolstoi
  => Hồi tưởng biến cố sóng thần Fukushima
  => Có loại cholesterol nào tốt cho sức khỏe?
  => Cần sa y khoa
  => Atmospheric aerosol và sự thay đổi khí hậu
  => Môi trường và các vấn nạn ở VN
  => Chuyện bếp núc và kẻ thù vô hình
  => Hong Kong
  => Tôi tốt nghiệp trường làng
  => Chuyện nhà quê
  => Liệu pháp miễn dịch trị ung thư
  => Coi chừng chó tại phi trường Canada
  => Sinh thái Đồng Bằng Cửu Long
  => Thiên đường trốn thuế
  => Tại sao chúng ta cần ngủ
  => Sông ngòi miền Bắc Việt Nam
  => Chuyện vui vơ chồng
  => Tuổi già và niềm vui ảo
  => Đương đầu với hiện trạng xấu dần của ĐBCL
  => Thời trang Cali 2016
  => Trình diễn thời trang Cali - Phần 3
  => Yogurt
  => Trở lại Kalaw(tt)
  => Chào mừng Ngày lễ Mẹ
  => Độc hại của đường fructose
  => Trồng cao su thiên nhiên
  => Thủy triều và con người
  => Hai trái cây kỳ diệu
  => Phán xét người
  => Tổ chức quản lý và giáo dục NN Việt Nam
  => Trở lại K
  => Tổ chức quản lý và giáo dục NN - Bài 2
  => Biết ăn gì đây hở trời
  => Thực vật là nhà toán học tài ba
  => Hạnh nhân nhiệt đới - cây bàng
  => Trận tử chiến giữa kiến vàng và kiến hôi
  => Người mang tim heo
  => Cây trái nhàu - Noni
  => Vận động thường xuyên và sức khỏe
  => Thực vật và con người
  => Liên hệ giữa ung thư và điện thoại di động
  => Bông hồng xanh dương
  => Bắn chim
  => Kính chào sư phụ trong ngày lễ cha
  => Món ăn đặc sản địa phương VN
  => Chuyện vui về ngày lễ cha ở hải ngoại
  => Dùng tế bào gốc chửa trị đột quỵ
  => Hiện thực mới của Nhật
  => Tại sao gạo tím đen ...
  => Thay đổi chánh sách Nhật
  => Nghĩ về tuổi thọ
  => Tế bào -B hay không tế bào -B
  => Hạnh phúc 2.0*
  => Molly nhà tôi bị bịnh rồi !
  => Khám tổng quát
  => Bệnh bao tử
  => Bệnh viêm
  => Thằng Cà Quẹo
  => Resveratrol
  => Ngộ độc thực phẩm
  => Cá mập
  => Resveratrol - Phần 2
  => Hội chứng trống ổ
  => Đối kháng thuốc trụ sinh
  => Coi chừng chó dữ
  => Các mặt trăng
  => Tiến trào vì sao TZO
  => Từ hận chính mình đến câm thù kẻ khác
  => Sâm ngoại quốc và sâm VN
  => Bệnh bạch cầu
  => Tình Cầm
  => Bệnh lú lẫn Alzheimer
  => Lỗ đen
  => Giải thoát
  => Mùa vu lan...
  => Đạo thờ Bà
  => Cập nhật tiến bộ thiên văn
  => Cao nguyên phố núi ..Phần 1
  => Tỉnh Hải Nam
  => Cao nguyên phố núi - P2
  => Bênh ZiKa
  => Môi trường không khí
  => Bệnh EboLa
  => Thảo mộc - 1
  => Chém cha cái khó
  => Tham dự MeKong...
  => Thảo mộc và tâm linh 2
  => Thão mộc và hành vi P3
  => Bệnh Dịch
  => Đại dương và biến đổi khí hậu
  => Đạo đức và di truyền học
  => Giáo Sư Phạm Hoàng Hộ
  => Tưởng nhớ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ
  => GS Phạm Hoàng Hộ 1929-2017
  => Điếu văn lễ tang GS PH Hộ của TDH
  => Điếu văn của GS Trương trong tang lễ GS PH Hộ
  => Những năm ảo vọng- Giáo Sư....
  => Sản xuất&Thương mại lúa gạo...
  => Duyên nợ với quê hương
  => Chuyện gạo lứt muối mè
  => Ba thê, núi sập...
  => Những đứa con tinh thàn
  => Ba Thê, Núi Sập cung đường...
  => Sức khỏe và tuổi già
  => Sức khỏe và tuổi già P2
  => Sức khỏe và tuổi già P3
  => Hải đảo Haiti và tôi
  => Bỏ cái tật ghiền
  => Sức khỏe và tuổi già P4
  => Rừng và con người
  => Mùa lễ ăn kiêng Phục Sinh
  => Hiện trạng rạn san hô...
  => Hydropower and....
  => Cách mạng kỹ thuật ...
  => Hydropower ...P2
  => Cách mạng kỷ thuật sinh học P2
  => Cách mạng công nghệ...P3
  => Biển và con người
  => Cách mạng công nghệ...P4
  => Cách mạng kỷ thuật 5
  => Biễn và con người P2
  => Cách mạng kỹ thuật...P6
  => Cách mạng kỷ thuật sinh học P7
  => Cách mạng kỹ thuật sinh học P8
  => Thầy Thái Công Tụng
  => GS Thái Công Tụng:-Rừng lá phổi....
  => Cực đoan và di truyền
  => Ngỡ lòng miǹh là rừng
  => Bài phát biểu trong tang lễ...
  => Đức tin và di truyền
  => The nao la 4D trong toan cau hoa
  => Môi trường là gì
  => Các đại tuyệt chủng sinh vật ...
  => Nữ khoa học gia Tara VanToai ...
  => Yes We Can
  => Nhà maý điện nhiệt hac̣h
  => Moi truong va suc khoe
  => Nha may nang luong nhiet hach
  => Tình trạng sản xuất lúa gạo...
  => Mùa gió chướng
  => Ăn Tết ngày xưa
  => Chó tiến hóa thành bạn thân của người
  => Hoa và mùa Xuân trong thi ca Việt
  => Làm sao để sống thọ
  => Chuyện nhà quê -MPM
  => Coffea Arabica
  => Nguồn gốc lúa Á Châu
  => Người Mẹ can cường
  => Madrid, mùa thu trong mắt ai ...
  => Tiến triẻ̉n liệu pháp miễn dịch trị ung thư
  => Tiến triển liệu pháp miển dịch trị ung thư. Phần 2
  => Bạn biết gì về ung thư
  => Những vị ân sư...
  => Bạn biết gì về ung thư
  => Khi Mẹ hơn trăm tuổi
  => To say Hello, Việt Nam
  => Hoa mai và Mùa Xuân trong thi ca Việt
  => Hoa và Mùa Xuân trong Thi Ca Việt
  => Hoa thủy tổ
  => Đông Tây tam kiệt,
  => Số phận Đồng Bằng Sông Cửu Lông
  TRANG BẠN VIẾT
  TRANG THƠ
  SƯU TẦM ĐIỆN BÁO
  GIẢI TRÍ
  ẨM THỰC
  ĐẶC SAN
  Xuân Bính Thân
  Đặc san xuân Đinh Dậu
  upload
Long An - Phần 2
30/8/2015





 
                           GS Tôn Thất Trình

Phần II - B  .

    1-  Khai thác  nông lâm ngư nghiệp Đồng Tháp Mười , trước tiên phải rữa phèn, chống  ngập lũ

    Như đã kể trên Đồng Tháp Mười  của 3 tỉnh Long An( tỉnh lỵ Tân An) , Tiền Giang ( tỉnh lỵ là Mỹ Tho ) và Đồng Tháp ( tỉnh lỵ là Cao Lãnh ) ngày nay chiếm  gần 700 000 ha , nghĩa là 18 %  tổng diện tích ba tỉnh. Mùa khô, 70%  đất đai Đồng Tháp Mười  lên phèn, nhất là phèn lạnh “màu trắng – alum” ,  khiến cho công tác rữa phèn rất tốn kém. Nhớ lại thuở ban đầu đến khẩn hoang vùng Hồng Kỳ, xã Phú  Cường, huyện Tam Nông tỉnh Đồng Tháp, lảo nông Nguyễn Văn Tài nói rằng chưa có kinh nào đào ngang qua chỗ nước đầy phèn màu đỏ nâu. Mùa khô phèn nổi lên quá nặng, nên chỉ còn chuột mới sống sót nổi. Đến 9  giờ sáng, trâu đã khó thở vì không còn nước  ít phèn trâu uống được nữa. Vùng mênh mông, nhưng người vắng hoe . Đầu thập niên 1980 , các chuyên viên Hoà Lan ước tính  phí tổn trung bình  rửa phèn ở vùng  Đồng Tháp là 1 triệu đô la  mỗi ha. Nghĩa là tổng phí rữa phèn cho gần 500 000 ha  đất  phèn -alum ở Đồng Tháp Mười  là 500 tỉ đô la Mỹ, năm đó, trên hẳn tổng lợi tức quốc gia Việt Nam năm 2012 khỏang 6 lần . Hai nhà địa chất, thổ nhưỡng học tên tuổi của Liên Bang Sô Viết thu thập các mẩu đất ở nông trường Láng Biên ( ? ) đem phân tích  kết luận là không thể  trồng lúa được trên các  đất vùng này. Các năm  giữa thập niên 1950,  nhiều chuyên viên quốc tế cũng khuyên là không nên khai thác  các vùng đất phèn  vùng Đồng Tháp Mười. Thật tế thì vào mùa ngập lũ thập niên đó, đã có vài nơi trồng lúa – sạ  lúa nổi một mùa mỗi năm, nhưng năng xuất lúa nổi rất thấp, được mùa chỉ  đạt 1- 1.5 tấn lúa /ha, phẩm giá gạo lại thấp kém,  vì hột gạo đỏ lúa trời –lúa ma lẫn lộn lúa nổi  trồng gieo hột giống - sạ  thẳng trên đất. Nhắc lại là lúa nổi- floating rice  lúa  nông dân trồng ở những ruộng đất thấp trũng không bờ, có mực nước sâu trên 100cm và ở những nơi nước  dâng lên từ từ. Lúa nổi thích ứng với mức nước dâng chầm chậm, thân lóng trồi lên khỏi mặt nước lũ có lúc 20cm mỗi ngày, nhờ acid gibberallic phát sinh khi cây lúa bị ngập nước kích thích. Nhiều giống lúa nổi có thể dài cao 5- 6m. Lúa nổi thường được sạ - broadcast thẳng vào đất đã cày xới sau vài trận mưa đầu mùa, nên  còn được gọi là lúa sạ. Nhưng nay nhờ hết chiến tranh, đào thêm rất nhiều kinh cải thiện giao thông chuyên chở. Chẳng hạn  từ năm 1981, riêng hai tỉnh Tiền Giang và  Đồng Tháp ,mỗi tỉnh đã đào thêm, nới rộng sâu hơn trên 600 km đường sông rạch- waterways  và trên 2300km kênh lấy  đất  đào  xây hai bên bờ kinh đắp thành đường bộ  nối liền các xã, ấp.  Đất sông, kinh đào cũng dùng xây thêm, mở rộng thêm  đường bộ bao ngạn, che chở nhiều khu, vùng trũng tháo nước– polders, thiết lập ấp xã, thị trấn to nhỏ, khỏi ngập lũ mỗi năm như trước đây. Nhất là  đưa nước  tưới tiêu vào rữa phèn,  giữ vững thủy cấp không làm khô lớp mặt đất lên phèn, biến các lọai đất phèn tiềm tàng hay họat động (sulfaquepts, sulfaquents )  dần dần trở thành đất phèn già (tropaquepts) trồng trọt được và nhất là tưới mùa khô,  trồng vụ lúa đông –xuân nhờ nhiều nắng,  năng xuất  thường cao nhất trong ba vụ lúa mỗi năm ở nước nhà.  Sau 10 năm thóat thủy rữa phèn, 600 000 ha Đồng Tháp Mười, nay đã làm trung bình hơn 2 vụ lúa mỗi vụ năng xuất từ 3 đến 7 tấn lúa mỗi ha, thay vì 1-2 tấn một ha  trước đây. Trung bình, lúa- thóc mỗi đầu người dân Đồng Tháp Mười nay đã tăng từ 800 kg lên 1700 kg năm 2012. Mỗi năm,  sau 1981  mức sản xuất lúa Đồng Tháp Mười đã hơn 1 triệu tấn rồi.  Về phía giao thông đường bộ,  nếu vào cuối thập niên 1990 - đầu thập niên 2000,  mọi xã Đồng Tháp Mười chỉ có đường đắp đất. Nay các đường vào  các huyện, xã Tân Hồng, Tam Nông, Đồng Tháp tỉnh Đồng Tháp; Cái Bè, Cai Lậy tỉnh Tiền Giang và Tân Hưng, Đức Huệ tỉnh Long An đều được xây bằng đá, đúc xi măng hay  trải nhựa. 

         a- Phát triễn nông nghiệp

         -    Lịch sử phát triễn biên cương  Đồng Tháp Mười qua  các thời đại: Tầm quan trọng của tự do  di cư  khai thác    đồng hoang , cỏ dại thành ruộng lúa, vườn tượt. 

               Từ  giữa thế kỷ thứ 19, các chúa Nguyễn đặc biệt là chúa Minh và chúa Võ , đã cho tiến sâu vào biên cương mới nước nhà. Các năm đầu  đến giữa thế kỷ thứ 20, các vua nhà Nguyễn Phước( Nguyễn Phúc ) sau đó đã chiếm cứ và bình định châu thổ sông Cửu Long, diện tích  tổng cọng  khỏang 50 000 km2 ( Châu thổ Cửu Long Việt Nam hơn 39 000 km 2 , phần còn lại nay thuộc Cam Bốt ) lập “đồn điền”, đồn binh ruộng bao quanh để cho dân gian miền Bắc và miền Trung và binh lính giải ngũ,  an tâm khai thác ruộng đất hoang vu. Từ ngữ đồn điền đã bị lạm dụng thời Pháp để dịch các từ Pháp là Plantations thay vì đại điền, nhất là  cho cao su, cà phê ở miền Đông và Tây Nguyên  và từ  Anh Large Estates  ở các xứ thuộc địa Anh, Hòa Lan. Các đại điền ít khi có đồn binh  trú đóng, bảo vệ an ninh. Về ruộng đất thấp, đó là các “dinh điền” , thời vua Minh Mạng đã cử nhà nho văn vỏ tòan tài  Nguyễn Công Trứ làm Dinh( Doanh ) Điền Sứ, mở mang ruộng đất vùng Tứ Giác Long Xuyên ngày nay. Khi Pháp đến châu thổ  năm 1867, chánh quyền Pháp thuộc địa khởi công đào một số kinh lớn. Dù rằng mục đích chánh đào kinh thời Pháp thuộc là để bình định  và giao thông, công trình  mở mang đất đai khai thác làm ruộng lúa cũng rất lớn lao, đặc biệt tại trung tâm châu thổ, dọc  đất tốt hai sông Tiền và sông Hậu.  Sau năm 1890, xáng đào thêm nhiều kinh lớn, không phải duy nhất để tăng  gia phương tiện giao thông chuyên chở,  mà là để gia tốc phát triễn lúa gạo ở châu thổ sông Cửu Long, biến châu thổ này thành vùng “Chén – Tô Cơm- Rice Bowl , lúa  gạo Đông Pháp” .  Tuy nhiên việc phát triễn trồng lúa ở Việt Nam đến thời kỳ Đại Khủng Hoảng- Great Depresion  năm 1930, rất ít liên quan đến vùng đất phèn Đồng Tháp Mười.  Các điều kiện môi sinh, sinh thái nông nghiệp Đồng Tháp Mười quá bất lợi vì ngập lũ mùa mưa, đất phèn  nghèo dinh dưỡng  cho lúa và phèn tiềm thế  trào lên mùa khô ( theo Nguyễn Hửu Chiêm – 1993). Sau Thế Chiến Thứ Hai,  các vùng trũng thấp hoang dã như ĐồngTháp Mười  biến  thành những biên cương mới “tranh chấp, xung đột quyết liệt”  giữa chánh quyền  Cộng Hòa Việt Nam và  Việt Minh  (trước 1960) và Việt Cọng ( sau khi Bắc Việt tổ chức “ Mặt trận Giải Phóng miền Nam ” ). Chỉ sau khi Chiến Tranh Việt Nam -  Việt Nam War ( có người nói là Chiến Tranh Hà Nội, vì  Bắc Việt gửi xâm nhập miền  Nam đến 150 000- 200 000 quân ( ? )  trang bị võ khí tối tân Nga Sô và Trung Quốc  hay Chiến tranh Mỹ, Hoa Kỳ -American War ) chấm dứt năm 1975, Đồng Tháp Mười cũng như các vùng trũng sâu khác của châu thổ Sông Cửu Long mới thật sự được khai khẩn rộng lớn và mạnh mẽ trồng lúa. Không mấy khác khai thác mở mang Biên cương miền Tây  Hoa Kỳ ( Brocheux- 1995 ) .   

           - Từ Khu Trù Mật đến  Ấp chiến lược

           Từ thời kháng chiến chống Pháp, các lực lượng cọng sản hay thân cọng thiết lập ở Đồng Tháp Mười ( cũng như ở các vùng trũng lớn khác )  các làng rừng - forest villages sinh sống, chiến đấu và trốn núp quân đội Pháp truy nã.  Sau khi đất nước bị Chu Ấn Lai ( ?) ép buộc chánh phủ kháng chiến miền Bắc chấp nhận chia đôi đất nước  năm 1954, chánh quyền Đệ nhất Cộng Hòa cố công tái chiếm, đọat lại trách nhiệm phát triễn các vùng này, từ Việt Minh – Việt Cọng. Khi chương trình khu Trù Mật- Agroville, mô phỏng  phần nào theo  Khu Trù Mật của Krutchev,  kế tiếp thời tổ chức nông nghiệp tập thể Lenine – Staline, thất bại,  cũng chánh quyền Đệ Nhất  Cộng Hoà rút kinh nghiệm, tung ra một chương trình định cư- resettlement program gọi là Chương trình Ấp chiến Lược – Strategic village khắp miền Nam, chống lại quân đội xâm nhập từ miền Bắc   quân giải phóng miền Nam.  Đặc biệt tỉnh An Giang, lúc đó còn có một phần đất Đồng Tháp Mười, dự tính làm  495 Ấp Chiến lược, trong số này  246 ấp đã hòan tất và 138 ấp đang xây dựng kể đến tháng giêng năm 1963 (  Osborn – 1965 ). Ở tỉnh  Đồng Tháp , 12  ấp chiến lược được xây dựng dọc theo hai kinh Đồng Tiến  và Phú Hiệp, chánh  quyền đào xong cuối thập niên 1950 : 7 ấp dọc theo kinh Đồng Tiến và 5 ấp dọc theo kinh  Phú Hiệp.  Các ấp đều được các lực luợng quân sự  địa phương bảo vệ.  Dân định cư trong các ấp này bao gồm các dân di cư miền Bắc, miền Trung  và luôn cả các di cư nghèo khổ các tỉnh miền Nam.  Một lảo nông sinh trưởng ở tỉnh Cần Thơ, nghe nói đến chương trình lúc tuổi 40, năm 1963 đến xin gia nhập ấp chiến lược trên kinh Phú Hiệp, nay thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, một  kinh  lớn đào sau kinh Đồng Tiến.            

       Ông được chấp nhận liền. Theo ông, mỗi ấp có chừng 200 gia cư dân tứ xứ di cư đến và mỗi gia cư được cấp  hai ha  đất ruộng và trợ cấp khá lớn để sinh sống (  gạo, muối, đường và nông cụ  trong 4 năm  sau khi đến định cư ). Ông nhận xét là điều kiện đất đai cấp phát  không phải là đất ruộng ông  quen thuộc. Đó chỉ là một đồng cỏ đầy mồm ấn – mồm mốc( Ischemum indicum ), lúa trời – lúa ma ( Oryza rufipogon) và nhiều lọai cỏ dại khác. Ông tự tay khai khẩn đồng cỏ mồm thành ruộng lúa. Nhưng năm đầu , ông chỉ thu họach được 300 kg lúa khỏang 150kg/ha, không đủ nuôi gia đình và ông đã  phải thu họach  cả lúa trời, bổ sung phần nào thực phẩm gạo cho gia đình.

        Như câu chuyện lảo nông vừa kể, đời sống trong ấp chiến lược không dễ dàng và không ổn định. Nhưng dần dần từng bước một, đồng cỏ hoang dại quanh ấp đã chuyễn hóa thành ruộng lúa.  Dù tăng trưởng dân số  cũng không lấy gì làm ổn định, vì thường xảy ra ngập lụt lớn, phèn trồi lên mặt đất và du kích chống chánh phủ Cọng Hòa tấn công, 

trong thời  chế độ Ngô Đình Diệm, một số đất ruộng hoang dã, bỏ hoang lớn lao đã được khai khẩn ở Đồng Tháp Mười và ở các vùng trũng lớn khác ( theo Tanaka Koji, Trung Tâm nghiên cứu Đông Nam Á Viện Đại Học Kyoto- 2001 ), giúp  Đệ Nhất Việt Nam Cọng Hòa xuất khẩu 200 – 300 000 tấn gạo mỗi năm. Năm 1961, tòan cỏi Việt Nam  sản xuất  8.9 triệu tấn lúa  trên tổng số diện tích các vụ lúa trồng là 4. 744 triệu ha.  Năm  1975, tổng lượng lúa sản xuất là  10. 29 triệu tấn.

     - Cải cách nông thôn theo chủ nghĩa xã hội: lý do hệ thống nông trường tập thể thất bại

       Ngay sau khi Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, cách sử dụng đất đai ở miền Nam  cải cách theo lề lối    hội chủ nghĩa - Socialist Reforms, trên phương diện chiếm sở hửu đất đai và trên các hệ thống sản xuất, chánh quyền mới thiết lập.  Ruộng đất các đại điền chủ hay của các người vắng mặt bị tịch thu và một hệ thống lao động tập thể - collectivized labor  được đề xuất. Dù rằng lao động tập thể  không thực tiễn và không được nông dân đã định cư ở Đồng Tháp Mười hưởng ứng, chách sách tập thể được thực thi nghiêm khắc  trên các nông trường quốc doanh – state farms , chánh phủ dựng lên, không phải riêng cho Đồng Tháp Mười và các vùng trũng lớn ở đồng bằng Sông Cửu Long mà khắp nước. Diện tích mỗi nông trường lên đến mấy ngàn ha đất hoang dã hay truất hửu từ các tiểu điền địa phương  trong phạm vi nông trường, bị bó buộc phải  đi ra nơi khác với bồi thường hay được cấp đất mới. Thay chỗ họ là các dân di cư mới, phần lớn từ miền Bắc. Mục đích cấp bách và cơ bản chính sách phát triễn nông nghiệp mới là tăng gia sản xuất lúa gạo, hầu đủ nuôi dân số tăng mau. Tuy nhiên khai khẩn các nông trường tập thể ở vùng Đồng Tháp Mười và ở các vùng trũng khác ở châu thổ rất khó khăn, vì đất đai hay bị ngập sâu, phèn trồi lên mùa khô và có nơi còn bị nước mặn thủy triều xâm nhập. Các đất tương đối tốt đã được các dân định cư  khai khẩn  từ các thời trước 1975. Ngay cả ở nông truờng trên đất tương đối ít phèn hơn, dọc kinh Kiến Hòa tỉnh Kiên Giang ( Rạch Giá ) thiết lập năm 1977 , gồm 550 thành viên thuộc Nghiệp đòan Thanh niên (Cọng Sản )   - Youth Union, cả đàn ông lẫn đàn bà đến từ  Miền Bắc và Bắc Trung Bộ, với 15 nhân viên hành chánh và 50 nhân viên kỷ thuật ban chuyên viên.  Năm 1981, có thêm 200 gia cư mới từ miền Bắc nữa. Diện tích nông trường là 4 400 ha.  Lúa  trồng năm đầu hòan tòan thất bại,vì nông dân miền Bắc mới vào không biết gì cả về vụ nổi phèn. Năm thứ hai, nông trường thay giống lúa trồng  bằng các giống địa phương và áp dụng  lề lối canh tác đất phèn cũng theo thể thức địa phương. Diện tích trồng lúa tăng dần cho đến năm 1980,  tối đa 2624 ha và  sản xuất 1850 tấn lúa ( và ruộng lúa bị  phèn và nước mặn làm hư hại cũng cao nhất lên đến 850 ha). Từ năm 1981, diện tích trồng và sản xuất lúa ở nông trường giảm dần ( năm 1981 là 2533 ha, sản xuất 1000 tấn lúa; năm 1986  chỉ còn gieo sạ 687 ha, sản xuất 502 tấn ). Tổng diện tích  nông trường cũng giảm từ 4 400 ha xuống 1400 ha năm 1986 ; 3000 ha được hòan lại  cho ấp – xã địa phương. Năm 1986, chánh sách “ đổi mới”  đất ruộng được phân phối cho gia cư thành tiểu điền chủ  được phép khai thác lâu dài trên đất “ thuê “( trên phương diện lý thuyết nhà nước vẫn là sở hửu chủ đất đai )   tùy theo khả năng lao động, trung bình mỗi gia cư khoảng 2ha. Nông trường cố gắng  duy trì quản lý hành chánh và các họat động nông nghiệp, biến hình thức tập thể thành hình thức hợp tác xã - cooperative, nhưng không giải quyết nổi việc xử lý ruộng đất quá to lớn ở tình trạng khai  thác hình thức tiểu điền Á Đông. Có đến 1/3 diện tích gieo trồng lúa bị thiệt hại nặng nề vì phèn, cùng lúc với chánh phủ cắt giảm trợ cấp cho nông trường, song song với tính chất  hiệu năng yếu kém  của  hệ thống lao động tập thể. Năm 1997, mọi họat động nông trường tập thể này chấm dứt và nông trường đóng cửa hẳn.  

         -  Sau “ Đổi Mới” thâm canh trồng lúa Thần Nông, cải cách mùa vụ, làm hai vụ: bỏ  hẳn lúa nổi- lúa sạ  dài ngày năng xuất kém thay bằng vụ Đông Xuân cao năng, song song với vụ lúa Hè Thu  

                  Tiếp tục chánh sách đào kênh của thời Pháp thuộc và thời Cộng Hòa và nhờ an ninh vãn hồi, chánh phủ Trung Ương và tỉnh địa phương  sau giai  đọan cải cách xã hội (nông  trường tập thể ) đã  cho đào rất nhiều kinh xã phèn đưa nước ngọt vào rữa phèn, rửa mặn  …,  mở đường cho việc thâm canh, tiến bộ lớn lao ở ngành trồng lúa Vùng Đồng Tháp Mười và  ở các vùng trũng lớn châu thổ sông Cửu Long. Cùng lúc  lại phổ biến sâu rộng thêm các giống cao năng – high yielding varieties được gọi tên là lúa “ Thần Nông” , bộ Nông Nghiệp Đệ Nhị Việt Nam Cọng Hòa thí nghiệm thành công đại trà năm 1967 và  sau đó khuyến nông mạnh mẽ ở đồng bằng sông Cửu Long.  Nông dân các tỉnh Long An, Cần Thơ và các tỉnh trung tâm đồng bằng hưởng ứng nhiệt liệt trồng lúa  Thần Nông  từ năm 1968, và lúa mới lan rộng đến ngọai vi châu thổ. Tuy nhiên ở Đồng Tháp Mười và các vùng trũng, mãi về sau  nông dân mới  sử dụng các giống lúa Thần Nông.  Năm 1979, chỉ mới có  một ấp chiến lược cũ tỉnh Đồng Tháp du nhập Thần Nông và đến giữa thập niên 1980,  nông trường quốc doanh tỉnh Kiên Giang vừa kể trên, mới du nhập các giống Thần Nông cao năng, Dù rằng dân địa phương đã biết các giống Thần Nông, họ cũng dư biết là phải cần tối thiểu hai năm rữa phèn với nước ngọt kinh đào đem tới, mới trồng được tốt đẹp các giống lúa Thần Nông.

         Phổ biến dùng lúa Thần Nông  cũng khởi động  thay đổi mô hình làm nhiều vụ lúa mỗi năm. Bơm nước, lúc khởi thủy dùng máy đuôi tôm bơi thuyền trong kinh rạch nhỏ, đã giúp làm hai vụ lúa một năm sau, vài năm kế tiếp khuếch trương lúa Thần Nông.  Mô hình chỉ trồng một vụ lúa  mùa với các giống  “lúa  nổi – lúa sạ”  đã bị thay thế bằng các giống Thần Nông cao năng,  ngắn ngày hơn và ít bị ảnh hưởng quang kỳ  trên thời gian sinh  trưởng , phối  hợp vụ Hè – Thu ( Summer – Autumn ) với vụ Đông Xuân ( Winter – Spring ).  Ngòai trừ  những nơi nuớc lũ ngập quá sâu  chỉ trồng được vụ lúa Đông Xuân. Tóm tắt  là tăng gia năng  xuất suốt hai vụ lúa và tăng ổn định sản xuất nhờ hòan tất hệ thống kinh- mương thóat thủy và dẫn thủy, đã khích lệ các ấp làng  nới rộng và thâm canh  trồng lúa gạo, chưa bao giờ thấy trước đây ở nước nhà. Lúa nổi hay lúa nước sâu – deep water rice ( khỏang 100cm )  giảm đi rất mau lẹ  và hầu như biến mất vào  giữa thập niên 1990. Diện tích lúa mùa ( lúa nước sâu) tỉnh Long An năm  1995 còn 49 600 ha,  nhưng năm  2002 chỉ còn 22 600 ha. Tỉnh Đồng Tháp năm 1995 còn trồng 1000 ha lúa nổi, nhưng vụ lúa này đã hòan tòan biến mất năm 1999. Trong khi đó , vụ lúa Đông Xuân  tăng từ 156 000 ha năm 1995 lên đến 261 400 ha năm 2001 . Vụ Đông Xuân tỉnh Đồng Tháp tăng từ  175 000 ha năm 1995 đến 261 400 ha năm 2001.  Năm 1976, tỉnh Đồng Tháp còn kiểm kê  được 142 000 ha lúa mùa mưa.  Năm 1990,  chỉ còn 115 142 ha lúa mùà mưa, trong khi  vụ lúa Đông Xuân  tăng từ 30 615 ha năm 1976 lên 141 903 ha năm 1990. N ăm 2012 ,  diện tích các vụ lúa trồng ở tỉnh Đồng Tháp là 462 000 ha  sản xuất 2,8 triệu tấn lúa, đứng hạng 3 trong số các tỉnh trồng lúa ở Việt Nam. Riêng tỉnh Long An cũng cố gắng thâm canh lúa, đặc biệt ở khu vực 1 tỉnh nhà, gồm các huyện  Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Thạnh Hóa  và Mộc Hóa, đạt mức sản xuất lúa gạo trên 2. 5 triệu tấn lúa, không thua kém bao nhiêu  tỉnh Đồng Tháp . Theo USDA và Post, trong 46 năm từ năm 1961 đến năm 2007 , mức sản xuất lúa  Việt Nam đã tăng từ gần 10 triệu tấn lên đến 35. 667 triệu tấn;  mức xuất khẩu gạo tăng từ 3. 5 triệu tấn năm 2000 lên 6. 75 triệu tấn năm 2010 .    

        Ngòai những cải thiện khác về  canh tác các giống Thần Nông, có lẽ nên kể ra một  kỷ thuật mới sạ lúa, khác hẳn cách sạ lúa nổi địa phương. Các giống lúa nổi, lúa nước sâu (lúa Hè -Thu), thường sạ ngay sau khi thu họach lúa Đông- Xuân khi lũ đã rút đi  và gặt hái trước khi lũ mới xuất hiện. Tuy nhiên  xây cất đê điều, bờ đê bao ngạn, bến sông rạch, mương liếp- líp …    với vật  liệu mạng lưới kinh mương dày đặc, đã ngăn cản  dòng  nước lưu thông thóat thủy vùng Đồng Tháp Mười, tạo ra nhiều khó khăn thóat thủy ra khỏi ruộng lúa vào muà mưa. Dân  ấp xã bị bó buộc  phải hỏan gieo sạ  lúa vụ Đông Xuân,  đưa tới thu họach chậm trễ, de dọa gieo sạ mùa Hè – Thu. Năm 1992, nông dân vùng Đồng Tháp Mười thực thi một kỷ thuật sạ lúa mới mẽ  gọi là “sạ ngâm  nghĩa là sạ ngay khi  ruộng ngập lũ sâu. Như vậy họ khỏi cần phải chờ đợi cho đến khi nước lũ ngập rút  hết ra khỏi ruộng. Sau năm  1994 ( ? ), viện khảo cứu lúa gạo quốc tế IRRI chế ra máy  gieo hột thẳng hàng  được kéo bằng tay, nhẹ, đơn giản gồm 4  hộp có lỗ chứa  để gieo hột, hai mảnh , xà trượt ở hai  bên và một bánh xe ở giữa khả năng gieo  một ha mất 14 giờ  và lượng hột giống ít hơn (  70 kg- 120 kg /ha thay vì  120- 150 kg / ha . Không rỏ máy này có được hoan nghênh như cách sạ ngâm  không ?  

           - Việt Nam  năm 2012 đứng đầu thế giới( ? ) về xuất khẩu gạo . Long An cần cải thiện thêm gạo Nàng Thơm Chợ Đào, Nàng Thơm Đức Hòa, Nếp Hoa Vàng Bả Canh – Cái Sào Thượng  Cao Lảnh , Nếp đất phèn Hà Tiên ….

            Sự đóng góp tăng vụ, tăng năng xuất của Long An nói riêng và Vùng Đồng Tháp nói chung và nhất là sự tăng vụ lúa  Đông-Xuân  của  trên 600 000 ha Đồng Tháp Mười, đã góp phần không nhỏ vào Việt Nam sản xuất  năm 2012  43 .7 triệu tấn lúa , tăng 3.3 % so với mùa 2011, xuất khẩu 7.5 triệu tấn gạo , cũng như thâm canh nhiều vụ ở các vùng trũng  ít phèn hơn như ở Tứ Giác Long Xuyên, (  đặc biệt ở  đồng phèn Bắc Kỳ - Casier tonkinois  Rạch Giá - Hà Tiên thời Pháp thuộc  biến tỉnh Kiên Giang  năm 2012  thành tỉnh sản xuất lúa gạo lớn nhất đất nước)   đưa Việt Nam lên hàng thứ nhất ( ? ) các nước trên thế giới xuất khẩu gạo năm 2012,  lần đầu tiên  nhiều hơn Thái Lan  chỉ xuất cảng năm 2012 được 6. 8 triệu tấn gạo ( theo  ước lượng sơ khởi của Lương Nông Quốc tế - FAO , bộ Nông Nghiệp Việt Nam  cho biết xuất khẩu  gạo nước nhà  lên đến 8.1 triệu tấn năm 2012 , nhưng có thể một số là gạo Cam Bốt tràn qua Việt Nam theo mạng lưới sông -rạch- kinh- mương chằng chịt  vùng biên cương Việt Miên,  không kiểm sóat nổi ? ). Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ- USDA  cũng ước lượng là năm 2013, Việt Nam cũng sẽ duy trì được mức xuất khẩu 7.5 triệu tấn, vì không có dấu hiệu gì mất mùa, bất lợi thời tiết… năm 2013 so với năm 2012 cả. Long An còn nổi tiếng  về sản xuất  lúa Nàng Thơm Chợ Đào, Chợ Đào là  một chợ địa phương ở  huyện Cần Đước. Nàng Thơm Chợ Đào  là lúa chưa cải thiện, thân cao (giàn )  140 – 160 cm,  ít trổ bụi, thời gian sinh trưỡng cũng quá dàì  170 – 175 ngày, chịu đựng giỏi đất mặn và đất khá phèn, thân dễ đổ ngã, kháng rầy nâu – brown plant hopper cháy bìa lá, bạc lá- bacterial leaf blight, hột gạo dài nhưng nhỏ hột ( còn có tên địa phương là “hột lựu- pearl rice” ) trước đây được cấy  vào cuối tháng mười, trỗ đòng – trổ bông vào  cuối tháng  11 và giữa tháng 12 tây.  Năng xuất trung bình 2-3 t/ha . Nay các thứ giống Nàng Thơm Chợ Đào lai tuyễn chọn hay tuyễn chọn dòng đồng nhất – pure lines, cải thiện lề lối canh tác, đặc biệt là cấy chậm hơn , giảm bớt bề cao lúa và tránh bớt đỗ ngã … , năng xuất có thể đạt 3- 4 t/ ha.  Giống Nàng Thơm Thủ Thừa, cây thấp hơn,  cũng chịu mặn, chịu phèn không kém Nàng Thơm Chợ Đào, nhưng ít thơm và cơm ít ngon hơn ( ? ). Một giống thơm khác là Nàng Thơm Đức Hòa, cũng ít thơm hơn, cây lúa thấp hơn, các điều kiện khác tương tự Nàng Thơm Chợ Đào, nhưng giống  lúa Thơm Đức Hòa chịu đựng đất phèn hơn. Đáng tiếc là  các giống lúa thơm nổi tiếng hơn Nàng Thơm Chợ Đào trên thế giới  Basmati 370, và các đột biến tuyễn chọn ở Ấn Độ, Jasmine 85 có nhiều đặc tính thơm ngon của  Khao Dawk Ma Li – KDML 105 ( lọai gạo  có nguồn gốc KDML xuất khẩu nhiều nhất và giá cũng rất cao của Thái Lan) đều đã được du nhập vào Việt Nam. Hương thơm Basmati 370 mất hết ở miền Nam Việt Nam và năng xuất  cũng rất thấp ở miền Nam Việt Nam, khác miền Bắc nơi hương thơm Basmati vẫn được duy trì. Khao Dawk Mali 105  duy trì hương thơm ở  đất mặn Long An, Trà Vinh và Sóc Trăng cũng như ở đất ít phèn ở Tri Tôn ( tỉnh An Giang ). Jasmine  85, tuyễn chọn ở IRRI dưới tên IR 841, đã phát triễn khá nhiều ở  các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Long An  nhưng năng xuất kém vì  nhiễm nhiều bệnh cây lúa và cũng không kháng được rầy nâu. ( Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Chí Bửu, Lưu Ngọc Trinh và Lê Vĩnh Thao -  2001 ).Ngòai lúa trời, lúa ma - Oryza rufipogon phải cố gắng cải thiện và  duy trì làm gạo thổi cơm đặc biệt, có lẽ Long An cũng nên nghĩ tới những giống nếp thổi xôi đặc biệt miền Nam  như Nếp đất phèn Hà Tiên  ( Kiến Giang ) hoặc ngay cả Nếp Hoa Vàng ( cải thiện ) đất thấp mà thời  xa xưa dân tỉnh Bình Định đã đưa vào địa danh “Đập  Đá - Đồng Tháp” .   

                 -   Nhắm về các hoa màu đặc sản chịu ngập

           Thập niên 1950 khi thiếu gạo vì chiến tranh ngăn cản công trình đào kinh rửa phèn, vài nơi Long An cũng như Đồng Tháp  dân gian lên liếp trồng các giống khoai mì, sắn - cassava, manioc, có vẽ chịu đựng chất độc  hại cho  cây là aluminium. Sau đó lấy bột khoai mì trộn với tôm giả nhẻo chế tạo bánh phồng tôm nổi tiếng Sa Giang ở  thị trấn Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp. Có lẽ Long An cũng nên tạo ra một lọai bánh phồng tôm xuất cảng tương tự ở một thị trấn huyện lỵ tỉnh nhà.  Tuy nhiên phải xem xét lại tuyễn chọn thêm các giống khoai mì cao năng kháng phèn và nghiên cứu rỏ lý do gì  diện tích khoai mì  lại gia giảm mạnh ở Long An. Chẳng hạn từ 15000 ha các năm đầu thập niên 1990, đã giảm xuống chỉ còn chừng 2- 3000 ha  thập niên 2000. Trong khi diện tích  khoai mì đã tăng nhiều ở nước nhà, đưa sản lượng khoai mì  nay đứng hàng thứ nhì ở  các lọai cây lương thực,chỉ sau lúa trên ngô –bắp. Năng xuất khoai mì Việt Nam hiện còn quá thấp kém, trung bình chỉ  12-15  tấn / ha trong khi trung bình khoai mì ở Thái Lan là 25 tấn/ha; tuy khảo cứu đã tuyển chọn được nhiều giống cao năng năng xuất 50- 60 tấn/ha trong nước và tiềm năng thế giới còn cao hơn nữa, 100- 150 tấn/ ha. Nếu không tìm cách nâng cao năng xuất, Việt Nam khó lòng chế tạo thêm bột năng  viên- tapioca xuất khẩu, nghĩ đến việc dùng khoai mì làm nguyên liệu chế tạo cồn- alcohol nhiên liệu trộn xăng như đang làm ở 6 nhà máy dùng khoai mì nước nhà ( thay vì là bắp- ngô ở Hoa Kỳ  hay mía ở Brasil).

       Mía cần một thời gian  đất khô  đốn mía, nhiều “chữ đường” - saccharose  hơn  trong  mùa mía tơ hay 2-3 mùa mía gốc,  có cơ hội lên phèn ở vùng khá phèn như vùng Hiệp Hòa huyện Đức Hòa thời  còn Pháp thuộc và trên đất quá nhiều sét nặng. Năng xuất cũng kém cõi, trung bình  chỉ 50 tấn thân/ha  thay vì tối thiểu 75- 100 tấn/ha thân mía trên thế giới, chữ đường vì thiếu mát lạnh cũng thấp;  cho nên từ những năm qua , ngành trồng mía làm đường không mấy phát đạt .  Khoai lang – sweet potatoe cũng không trồng tốt trên các vùng đất sét nặng.  Từ năm 2005, vài nông dân Cao Lảnh  tỉnh lỵ ĐồngTháp đã lên rẫy  - liếp vườn trồng khoai mỡ -yam, igname.  Nếu để dây bò gần 2 năm, có nhiều cũ khoai mỡ  nặng hơn 80 kg một cũ, ăn dẽo hơn khoai thường và để lâu cũng không sượng. ( thật tế khoai mỡ  thường chỉ tồn trữ tốt trong vòng 5- 6 tháng ). Khoai mỡ trồng ở  Viễn Đông thường là các giống khoai mỡ nước – water yam , chinese yam , ruột, thịt vàng yellow-  yam thuộc lòai Dioscorea alata, Việt Nam hay trồng lấy củ nấu xúp, nhưng cũng có thể nướng , nấu , chiên , xào …. Nhóm khoai mỡ trắng - white yam thuộc lòai D. rotundata  thực phẩm chánh cho nhiều vùng Nigeria, Châu Phi , chịu đựng đất sét nặng,  đáng chú ý cho vùng đất nặng Đồng Tháp Mười, kể cả tỉnh Long An. Khoai mỡ  trồng đầu mùa mưa, 5- 6  tháng sau có thể thu họach được rồi,  củ nặng trung bình  2- 10 kg, năng xuất khỏang 15- 16 tấn/ ha. Nhưng có lẽ nên nghĩ tới các giống lòai khoai môn lòai môn nước, môn ngọt– taro, old cocoyam, Elephant ears…, loài Colocasia esculenta ( C. antiquorum ) họ Môn Araceae, trên thế giới  có đến cả ngàn thứ giống, nên lựa chọn du nhập hay tuyễn chọn  các giống đã có trong nước, thuộc nhóm khoai môn nhiệt đới, chịu đựng ngập , đất phèn… nhiều hơn, phẩm giá cũ ngon , năng  xuất cao hơn. Ngòai cũ, chúng ta còn ăn cuống lá ( không phải là “ đọt, dọc mùng”  của cây Bạc Hà lòai Colocasia odora cùng họ Môn)và lá non. Lá  môn có tác dụng cầm máu khi đứt. Long An đã có nhiều vũng  sen –súng và cũng  đã cố gắng cải thiện sen, ngòai năng xuất hột nên nghĩ thêm đến cũ- căn hành, cọng lá … làm rau cải, cũng như tuyễn chọn hoa, cọng …các giống súng chỉ  (  súng co ) dân  gian đã biết ăn củ, cọng rất dài mùa nước nổi ăn như đọt mùng Bạc Hà của cây súng lam … Nghĩa là cố gắng tạo thêm những “vườn rau” đặc sản nhiệt đới, chịu ngập – swampy trong đó nên kể thêm các giống củ (thật ra là trái, bế quả ) ấu – water chestnut lòai củ -trái hai sừng Trapa bicornis  var cochinchinensis, môt trong ba lòai tông Trapa định danh ở nước nhà  , các lòai rau má, có lẽ là lòai rau má nhỏ - tawn water  pennywort Hydrocotyle(  Centella)  sibthorpioides thích hợp nơi ẩm thấp nhất trong số 10 loài rau má định danh ở Việt Nam , rau dền lòai trồng nấu canh( dền tía) Amaranthus tricolor, A . giganticus, …hay những hoa -lá  ăn được các lòai tiểu mộc điên điển ( cùng tông với lòai so đủa )  Sesbania sesban cỗ truyền hay mới du nhập  trồng mọc mau( ? ) làm cũi, bảo vệ các bờ kinh như  điên điển trái to Sesbania  macrocarpa nguồn gốc Trung – Nam Mỹ v.v…                                                         

               Không một lý do gì ngăn cản  Long An,  như đã phát triễn hoa kiểng Thành Tâm ở thị xã Tân An phát triễn thêm các làng hoa – flower gardens villages  trong các thị trấn hay ở ngọai ô  các  thị trấn huyện lý tân tạo, tương lai đạt được kích thước như làng hoa Tân Quí Đông -Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp,  một trong những  làng trồng hoa lớn nhất đất nước  rộng đến gần 300 ha, cung cấp mỗi năm  12 triệu cây hoa- cành hoa bán ra ngọai quốc cũng như khắp nước,  đang được chánh quyền  đầu tư thêm  cải thiện phẩm gíá,  phương cách làm hoa lâu tàn…  đặc biệt  trên các lòai hoa địa phương : vạn thọ, mồng gà, hoa mười giờ, huệ hương cúng kỵ, lan thân trụ Đan rô Dendrobium sp., mai vàng, mai trắng Ochna sp . v.v… áp dụng những kỷ thuật sinh học tiên tiến. Và cũng tại sao không ?   tân tạo những khu sản xuất ngòai thơm - dứa- khóm cỗ truyền  Lương Hòa – Đức Hòa, những  đặc sản tương tự trái cây ĐồngTháp như xòai Cao Lảnh, quýt Lai Vung, nhãn Châu Thành, bưởi tứ  qúy Phong Hòa. Diện tích cây trái nay đã trên 30  000 ha  và sản lượng trên 150 000 tấn một năm ở  tỉnh Đồng Tháp.

    b –   Phát triễn ngư nghiệp , thủy sản: Đa dạng nông nghiệp Long An song song hay ngòai lúa gạo: nuôi tôm tôm thẻ chân trắng , tôm càng xanh trên ruộng, cá Pangasius …   

         Ngoài ruộng lúa  nước ngập,  ở đất thấp trũng ngập sâu, đất phải giữ ẩm để khỏi lên phèn … lẽ dĩ nhiên là phải nghĩ đến nuôi cá , nuôi tôm , nuôi vịt … ở một trong những  tỉnh nổi tiếng  là đất “chim trời cá nước”.  Năm 1995, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản cả nước là  453 600 ha , riêng Đồng bằng Sông Cửu Long đã chiếm  289.400 ha. Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước năm 1995 là 389 000 tấn.  Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng chiếm 70% tổng sản lượng  266 982 tấn ,nhưng nuôi cá tôm phát triễn mạnh mẽ lúc đó là ở Bến Tre, Cà Mau,  Tiền Giang và An Giang ( tưởng cũng nên nhắc lại là đầu thập niên 1970, Việt Nam Cọng Hòa cũng đã phát triễn nhiều kỷ thuật nuôi “cá bè – fish cage” cá thúc vỗ trong lồng dưới nước, trên là nhà, dọc sông, năng xuất rất cao ở An Giang – Châu Đốc và nuôi tôm nước lợ, nước mặn cải thiện ở  Bạc Liêu. Năm 2000, diện tích thủy sản nuôi trồng cả nước là 642 000 ha và sản lượng cả nước là 590 000 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2000 tăng lên đến  445 000 ha , và sản lượng đạt 365 100 tấn. Sản lượng thủy sản nuôi An Giang – Châu Đốc đã  lên cao vựợt Cà Mau, hơn hẳn Bến Tre.  Tuy  diện tích nuôi trồng thủy sản Long An năm 2000 đã là 3400 ha, trên Đồng Tháp chỉ có 1900 ha,  nhưng sản lượng  Long An  chỉ  gần 9000 tấn, còn thua xa sản lượng Đồng Tháp  là 38 000 tấn. Năm 2007 là năm  cột mốc, lần đầu tiên, ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam đạt sản lượng  2 085 200 tấn, cao hơn sản  lượng  đánh bắt thủy sản là  2 063 000 tấn.  Sản lượng nuôi  trồng tòan quốc 2007 là 1 828 068 tấn cá nuôi và 386 728 tấn tôm nuôi, trong khi  năm 2004 chỉ đạt  761 000 tấn cá nuôi  và 281 800 tấn tôm nuôi. Năm đó, tôm sú – black tiger shrimp Penaeus monodon  còn chiếm đến  80 – 90 %   tổng sản lượng tôm nuôi. Vì vùng nuôi tôm sú ở miền Nam, nơi nhiệt độ cho phép  làm 2 mùa tôm sú. Thể thức nuôi tôm phần lớn là quảng canh , nên thành quả là  đến năm 2008 Việt Nam, Ấn Độ và Bangladesh là vài  quốc gia sản xuất tôm sú cở lớn, phẩm giá cao. Tôm thẻ chân trắng- white leg shrimp Penaeus vannamei   từ Nam Mỹ, có lẽ được du nhập vào Việt Nam  giữa các năm 1997- 2000 . Mức sản xuất tôm chân trắng tăng mau lẹ ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc, nhờ dễ thuần dưỡng – domestication, dễ  tuyễn con giống , dễ nuôi thả tôm  con tỉ trọng cao , ít yêu cầu - đòi hỏi  thực phẩm phải chứa nhiều protein như nuôi tôm sú, chịu đựng nhiệt độ tương đối thấp và phẩm giá  nước nuôi kém cỏi. Tháng giêng  2008, Cục( ? ) Thủy Sản ( bộ Thủy Sản sáp nhập vào bộ Nông nghiệp năm 2007 )  mới chấp nhận cho nuôi thâm canh tôm chân trắng ở các ao đào, ở những vùng nuôi trồng an tòan tại Châu Thổ Sông Cửu Long. Tôm sú và tôm chân trắng là tôm nuôi vùng nước lợ - brackisnh water. Mùa khô mức thủy triều dẫn mặn vào sâu các sông, rạch, kinh …. tỉnh Long An. Năm  2006  Long An  sản xuất được  7085 tấn tôm.  Mức sản xuất tôm  giảm xuống hai năm sau, chỉ còn 5 683 tấn , có lẽ vì tôm chân trắng bị bệnh ( bệnh đốm trắng …. ) nhiều và khó khăn  mua con giống tôm sú ( ? ) , nhưng tôm nuôi ở tỉnh nhà vẫn  cao  mấy lần hơn tôm nuôi ở tỉnh Đồng Tháp  chỉ đạt 308 tấn .  Năm 2008, Việt Nam đã xuất khẩu  191 553 tấn tôm, trị giá 1.625 tỉ đô la Mỹ, bán nhiều nhất cho Nhật Bản, Hoa Kỳ và Hiệp Hội Âu Châu. Năm 2008, Việt Nam đã  xuất khẩu  386 000 tấn các lọai cá da trơn – catfish  tông Pangasius sp. ( cá tra, cá vồ, cá bông lau- basa …) , trị giá 979 000 đô la  ( so với năm 2005  xuất khẩu  140 707 tấn, trị giá  328 215 đô la ).  Tuy nhiên  sản lượng tôm ở cả hai tỉnh này  đều không đáng kể  so với   88 500 tấn tôm nuôi ở Cà Mau , 58 000 tấn ở Bạc Liêu,  53 000 tấn ở Sóc Trăng,  và trên 22 000 tấn ở các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre năm đó. Ở một tỉnh có đến 200 000 ha nhiều tháng nước ngập và nay đã làm hai ba vụ  lúa nước, mùa khô  vẫn còn  đưa nước ngọt vào đủ ở hệ thống sông, rạch, kinh, mương dày đặc,  ngành nuôi trồng tôm cá và một vài lọai  thủy  sản  khác( nghêu sò , ốc ăn được , cua …) của Long An cần phải tăng cường mạnh mẽ hơn:  khảo cứu, khuyến ngư, cải thiện phương thức  nuôi như GAP thủy sản, lề lối thâm canh, hầu đuổi kịp các vùng tỉnh khác có nuớc mặn, nâng cao thêm lợi tức nông dân   còn nghèo khổ đa số nay vẫn độc canh  làm lúa ( dù rằng nay đã  họ đã thừa lúa  đem bán, thay vì thiếu  lúa- đói cơm phải ăn thêm lúa ma và chờ đợi trợ cấp chánh quyền  cuối thập niên 1975 mãi cho đến sau thời gian” đổi mới” các thập niên 1980- 90 ). Ít nhất là trên phương diện cá Pangasius, Long An cần đuổi kịp tỉnh Đồng Tháp, một trong 4 tỉnh sản xuất lớn nước nhà (  ba tỉnh kia là An Giang, Cần Thơ, Bến Tre).  Tưởng cũng nên biết là năm  2011, Việt Nam đã xuất khẩu 1.3 triệu tấn cá Pangasius trị giá  trên 1. 8 tỉ đô la Mỹ  và năm 2012 tuy vẫn xuất khẩu gần 2 triệu tấn cá Pangasius, nhưng chỉ còn thâu vào 1.7 tỉ đô la, trụt 3.4 % so với 2011 trên  trị giá  tổng xuất khẩu thủy sản nước nhà là 6. 2 tỉ đô la  năm 2012,  thấp hơn mục tiêu đặt ra cho năm 2012 là 6.4 tỉ.   Xuất khẩu mọi lọai tôm  năm 2012 giá trị 2.35 tỉ, cũng thấp hơn giá trị năm 2011 là 2.4 tỉ đô la  Mỹ.

             c-  Trồng lại rừng tràm nên chăng ?

                Làng rừng tràm là những trại căn cứ kháng chiến Vùng Đồng Tháp Mười thời gian chiến tranh từ 1945 đến 1975. Từ cuối thập niên 1980, chánh quyền mới khởi sự một chương trình tái lập rừng tràm để  bảo tồn đất thấp đồng lầy và cố tâm biến  gỗ tràm thành một  hàng hóa thương mãi.  Trồng lại rừng tràm còn có mục đích chánh trị, ngoài mục đích kinh tế là làm tái sinh  tăng cường tinh thần, nhuệ khí “ Cách mạng – Giải phóng Dân tộc”. Vì vậy nên được đề cao ở các nông trường tập thể quốc doanh – state farms. Chẳng hạn rừng quốc gia ở tỉnh Kiên Giang chiếm 21 400 ha vùng  U Minh Thượng trung tâm Vũng Lớn  đất than bùn, thọat tiên thiết lập  nhiều nông trường  để trồng lúa . Nhưng vì đất than bùn dày  không chưn trên đất phèn tiềm thế, không thích hợp cho  trồng lúa, nên nhiều nông trường mau lẹ  chuyễn qua đồng cỏ sậy – common reed  Phragmites ( Arundo )  vallatoria, chỉ để lại chút ít rừng tràm nguyên thủy ở trung tâm nông trường. Năm 1992, chánh quyền Trung Ương quyết định biến  vùng trũng này thành  những “làng rừng  quốc doanh, gồm một vùng  nông lâm- agroforestry zone và một vùng rừng dự trữ – forest  reserve zone” .  Sau khi hòan tất đào kinh bao ngạn  năm 1992, các  di dân định cư mới được tuyễn đến lập nghiệp khai thác vùng nông lâm giữa “ ốc đảo bao ngạn – polder” vòng trong và vòng ngòai ( xem hình ). Mỗi nông dân mới được cấp một giải đất 4 ha ở vùng nông lâm và bị bắt buộc phải nhận các cây tràm con - Melaleuca  seedlings trồng 2 ha ở ốc đảo bao ngạn  vòng trong; ốc đảo vòng ngòai có thể trồng lúa.  Cục lâm nghiệp trợ cấp di dân mới để trồng tràm, nhưng di dân chỉ thích trồng lúa, thu lợi tức mau lẹ hơn là chờ đợi  bán cũi,gỗ tràm lớn.  Cục lâm nghiệp  tiếp tục trồng tràm  Melaleuca   ( đôi khi luôn cả  đại mộc khuynh diệp đỏ  Eucalyptus camaldulensis  thích hợp đất ẩm thấp, phèn tiềm tàng )ở khu  dự trữ bảo tồn rừng và trên đồng sậy hoang dã . Đưa tới một phân biệt rỏ rệt giữa hai vùng ốc  đảo, cuối thập niên 1990, đồng ruộng lúa rộng lớn vòng ngòai và rừng tràm Melaleuca dày đặc vùng trong.   Thật muôn vàn khó khăn cho Cục lâm nghiệp nới rộng rừng tràm vùng nông lâm, Cục muốn làm thành một vùng đệm ( độn )  che chở khu rừng dự trữ bảo tồn.  

           Còn ở  Đồng Tháp Mười, năm 1985, một nông trường tập thể thất bại diện tích tổng  cọng là 10 000 ha đã được sửa đổi thành một tổ hợp- corporation nông nghiệp và lâm nghiệp. Tuy nhiên tổ hợp  cũng thất bại và năm 1990,  7600 ha  Melaleuca  đồng  sậy ẩm thấp  được chuyễn qua cho chánh quyền địa phương quản lý và thành một khu dự trữ thiên nhiên . Phần còn lại  2400 ha  tiếp tục trồng lúa,chia ra nhiều lô nhỏ và giải tỏa cho nông dân canh tác năm 1994 và trở thành một vùng ruộng lúa  thịnh vượng.Vùng dự trử bảo tồn rừng  luôn luôn bị khai thác bất hợp pháp để trồng lúa. Một phương thức khác  “đổi  mới”  là chuyễn nông trường tập thể xã hội  qua hình thức  liên doanh khai thác   rừng với sự tham gia của các công ty  rừng thương mãi ngọai quốc. Các nông trường quốc doanh  phía Bắc tỉnh Kiên Giang, năm 1990 đã chuyễn  ồ ạt qua một công ty liên doanh ngoại quốc.  Công ty khởi sự trồng tràm và khuynh diệp đỏ năm 1991, mục đích  xuất khẩu mảnh gỗ làm bột giấy-  pulp chips . Công ty dự trừ trồng  60 000 ha, nhưng khế ước ký kết  chỉ cho công ty  thuê đất 35 năm, trồng 45 000 ha rừng. ( chiếu theo báo cáo Tanaka Koji – 2001 ) .

            Tràm đã được  Hiệp Trấn Trịnh Hòai Đức  1765- 1825 ) nhắc đến ở Gia Định Thành Thông Chí là cây “trăm lớp võ” , võ có thể dùng lợp mái nhà và  thân làm củi đun.  Thời Pháp thuộc, thân tràm dùng đóng cừ xây cất ( Sài Gòn  trước đây một thành phố dựng trên cọc cừ tràm chống giữ  xây cất) nhưng nay khai thác rừng tràm và trồng lại rừng tràm không còn lợi lộc nhiều nữa, vì trồng lúa cao năng, nhiều vụ lợi hơn và  các nọc trụ bê tông cũng tiện hơn, rẽ hơn.  Năm 2012, ước lượng  Đồng Tháp Mười mất đi một năm  5000 ha rừng tràm.  Huyện Tiên Phước tỉnh Tiền Giang ( Mỹ Tho )  nay chỉ còn 4500 ha rừng tràm  trong số 10 200 ha kiểm kê năm 2005.  Năm 2010 Long An còn được  46 000 ha rừng tràm; năm 2012 chỉ còn 40 000ha . Long An  nay mất đi 3000 ha rừng tràm mỗi năm.    

    1-    Công nghệ Lon

Công nghệ Long An thật sự cất cánh năm 2002, khi Sài Gòn- TP HCM  bắt đầu di dời  30 000 doanh vụ  và thủ công ô nhiễm  ra khỏi nội thành về ngọai ô.  Ủy Ban nhân dân tỉnh Long An  chụp ngay cơ hội phát triễn kinh tế xã hội tỉnh nhà, hợp tác ngay với TP HCM.  Một kế họach  tái định cư  doanh vụ công nghệ và thủ công từ TP HCM đến tỉnh nhà trong hai năm.  Long An hòan tất qui họach 22 vùng công nghệ, diện tích tổng cọng là  8200 ha. Chánh phủ   năm đó chỉ chấp thuận dự án  thiết lập 6 vùng công nghệ Long An và  chỉ lựa chọn  đa số là các công ty địa phương  tài chánh vững vàng  để xây cất hạ tầng cơ sở.  Khu  công nghệ Đức Hòa I đã phát triễn đầu tiên năm 2001.  Đến năm 2006, hai công viên công nghệ khác của Long An đã hòan tất, các doanh vụ chiếm cứ đầy đủ.  Công viên Thuận Đảo ( ? ) diện tích 114 ha và công viên Đức Hòa 1 diện tích  70 ha  đã có 45 công ty, phần  lớn  làm đồ nhựa nhẻo – plastics, giày dép, thực phẩm chăn nuôi và các xưởng tổng quát. Theo  Cơ quan Quản trị các Vùng Công nghệ tỉnh nhà, năm 2006 đã có 110 doanh nghiệp  ngọai quốc họat động tại Long An . 60 %  nguồn gốc Đài Loan . Các nhà đầu tư  chánh khác là Thái Lan,  Pháp,Vương Quốc Anh và  Hàn Quốc ( Nam Hàn ). Tổng số đầu từ đã trên 1 tỉ đô la Mỹ và tăng mau lẹ để sản xuất giày dép, áo quần, các đồ  nhựa dẻo. Tại Công viên Đức Hòa II, do công ty Phú Mỹ Vinh  thiết lập, chỉ cách Quận 1- TP HCM  25 km. Bến Lức cũng thành một trung tâm công nghệ tích cực, chỉ cách quận 1- TP HCM 30 km. Long An cũng nắm lấy cơ hội phát triễn công nghệ chế biến nông sản. Công ty Cargill, một công ty Hoa kỳ khổng lồ chế biến nông sản, đã đầu tư 25 triệu đô la ở Bến Lức để chế tạo thực phẩm gia súc và các thực phẩm khác.  Japfa, một công ty chế  biến thực phẩm gia súc lớn của Thái Lan cũng lập  cơ sở chánh ở Long An.  Nhưng công ty sử dụng nhân công lớn nhất tỉnh là công ty  Ching Luh,  dùng 30 000 nhân công sản xuất  giày Addidas và Nike ở Bến Lức. Công ty sử dụng nhân công đứng hàng nhì là Taffeta của Đài Loan, sản xuất hàng vải vóc và tơ sợi, dùng đến 8600 nhân công. Thứ ba là Công ty Đế Vuơng ( Emperor Company Limited  của Đài Loan), dùng 5000 nhân công sản xuất giày - dép.  Hầu tăng thêm ưu điểm và lợi dụng vị trí cạnh tranh  địa lý thuận lợi…,  Ủy ban Nhân dân Long An đã dự trù xây cất  một  hải cảng ở Tân Tập , tàu trong tải 30 -50 000 tấn có thể cập bến. Cảng biển này rộng 400 ha và vị trí là nơi hai sông Vàm Cỏ và sông Soài Rạp gặp nhau.  Vì  cần phải được nạo vét trước, cảng Tân Tập  chưa được chánh quyền Trung Uơng chấp thuận và cũng chưa có hảng nào đầu tư xây cất năm 2006,  dù  công ty Vinacapital  tỏ ý muốn đầu tư xây cảng. Không rỏ nay đã xây xong Tân Tập chưa ?

                     Các công viên công nghệ IP đến  năm 2012 ở Long An là :

             * ở huyện Đức Hòa :  Việt Hoa -Đức Hòa 3 ,  Thái Hòa- Đức Hòa 3 , Ánh Hồng-  Đức Hòa 3 ,  SILICO- Đức Hòa 3, Thạnh Đức – Đức Hòa 1, Hạnh Phúc – Đức Hòa 2 ,  Tân Đức…

              * ở huyện Bến Lức là Thuận Đào , Vĩnh Lộc 2, Tân Bửu – Mỹ Yến – Long Hiệp , gồm luôn các  công viên Khánh Đông- Long Hiệp IP, Tân Bửu IP , Tân Bửu 4 IP,  Mỹ Yên 4 IP, Conresco IP, Nhứt Chánh  IP

               * ở huyện Cần Giuộc là Tân Kim IP, Tân Phước IP, Long Hậu IP, Phước Vĩnh Đông IP, Tân Tập IP

               *  ở huyện Cần Đước là  Cầu Tràm IP

          Sau đây là mô tả sơ lược  hai Công viên Công Nghệ IP Long An:

            - Tân Đức IP  : diện tích là 535,6 ha, giai đọan đầu 276.14 ha, giai đọan II 259.46 ha, được chấp thuận xây dựng  tháng giêng năm 2003.  Vị trí là xã Hửu Thạnh và xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, có đặc điểm:  kế cận các tỉnh lộ 830 và 825  đến quốc lộ 1A , tới TP HCM và  các tỉnh ĐB SCL;  giáp sông Vàm Cỏ Đông  chảy về Biển Đông và dẫn tới TP HCM, các tỉnh ĐBSCL rất thuận tiện bằng đường sông; trong dự án chi tiết có  một cảng công ten nơ trên sông Vàm Cỏ;  cách  trung tâm TP HCM và  Phi trường Quốc tế Tân Sơn Nhất 20 km, cách thị trấn Bến Lức 15 km;  cùng dự trù xây cất một khu cư xá 422 ha  kế cận IP có thể  cho trên 58 000 người cư trú, nay đã thực hiện xong giai đọan 1 rộng 74.22 ha. Tân Đức dự trù làm các công nghệ nhẹ ít ô nhiễm( thân thiện môi sinh) , tỉ như chế biến thực phẩm, tơ sợi, may mặc, giày dép, plastic, chế biến gỗ và chế tạo máy móc.

            - Ánh Hồng – Đức Hòa 3 IP ; diện tích là54.9 ha chấp thuận dự án chi tiết tháng chạp  2002. Vị trí  ở Đức Hòa 3 IP , xã Đức Hòa  Hạ, huyện Đức Hòa,  có đặc điểm : giáp  TP HCM và  cách trung tâm TPHCM  25 km ; nối với  quốc lộ 22,  cách  quốc lộ chừng 9km;  nằm giữa ba khu cư xá  gồm  thị trấn Đức Hòa, thị trấn Hậu Nghĩa ( tỉnh Long An ) và thị trấn Củ Chi ( thuộc TP HCM ).  Ánh Hồng dự trù làm công nghệ ráp, chế tạo cơ khí và các hàng hóa tiêu thụ .

       Tháng 10 năm 2012, Chánh phủ chấp thuận Qui họach Phát triễn Kinh tế Xã hội tỉnh Long An đến năm 2020, tầm viễn cảnh xa đến 2030 , chia tỉnh ra làm 3 vùng:  Vùng I gồm các huyện như Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Thạnh Hóa và Mộc Hóa sẽ cố gắng thâm canh lúa,  hầu bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, sản lượng lúa trên 2.5 triệu tấn/năm;  Cùng  lúc phát triễn nuôi cá, nuôi tôm , thủy sản khác và tăng cường du lịch. Vùng II  nằm giữa sinh thái hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Nhiệm vụ chánh vùng II là một vùng đệm( độn ) – buffering zone, bảo vệ  cho Vùng I và vùng III khỏi vấn nạn công nghệ hóa và đô thị hóa qúa độ, giảm bớt ô nhiễm hai sông Vàm Cỏ khi nhiều dự án công nghệ tích cực họat động, cố gắng bảo tồn một không gian sạch và xanh cho phát triễn tương lai.  Vùng III là vùng đô thị hóa và công nghệ hóa Long An , gồm sông Vàm Cỏ Đông và vài huyện như Đức Hòa, Bến Lức, Cần Giuộc, Cần Đước và một phần các huyện Thủ Thừa, Châu Thành và Tân Trụ. 4 %  đất đai  thiên nhiên của vùng này sẽ làm phát triễn đô thị và công nghệ , mục đích biến Long An thành một tỉnh công nghệ hóa vào năm 2020, tỉ xuất công nghệ và xây cất phải đạt trên 40 %  GDP tỉnh nhà. Theo báo cáo năm 2012, GDP Long An  đạt 15.851 ngàn tỉ- trillion  VND, tỉ  xuất tăng trưởng kinh tế là 10.5 %. Tỉ xuất tăng trưởng nông lâm ngư  năm 2012 ước lượng chỉ tăng 3.3 % . Dù rằng các năm 2008- 2009,  các họat động công nghệ Long An gặp nhiều  khó khăn như toàn thể đất nước và nhiều quốc gia trên thế giới, lảnh vực công nghệ vẫn đạt  11.5 %,  trị giá sản xuất công nghệ ước lượng đạt 26.774  ngàn tỉ VND.  Viễn cảnh cho năm 2020, lợi tức trung bình GDP mỗi đầu người sẽ là 80  triệu VND ( xấp xĩ 3000 đô la Mỹ- USD )  và đến 172 triệu VND (  trên 5400 USD ) năm 2030.  Năm 2020, phân chia GDP tỉnh Long An sẽ  là 15% cho  nông nghiệp, 40 % cho công nghệ xây cất  và 45 % cho dịch  vụ ….

 

                 ( Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ, ngày 5 tháng hai 2013)

 

 

PHỤ TRÁCH BIÊN TẬP  
  VÕ THANH NGHI
vothanhnghiag@yahoo.com.vn
NGUYỄN THANH LIÊM
huunghi68dvb@yahoo.com


Địa chỉ liên lạc: thnlscantho.3@gmail.com

Sáng lập : Dr TRẦN ĐĂNG HỒNG

Đặc San:
Đặc san XUÂN CANH DẦN (2010)
Đặc san XUÂN TÂN MÃO (2011)
Đặc san XUÂN NHÂM THÌN (2012)
Đặc san XUÂN QUÝ TỴ (2013)
Đặc san XUÂN GIÁP NGỌ (2014)
Đặc san XUÂN ẤT MÙI (2015)
Đặc san XUÂN BÍNH THÂN (2016)
Đặc san XUÂN ĐINH DẬU (2017)

Đặc san "Lưu Bút Ngày Xanh I (2010)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh II (2011)
Đặc san Lưu Bút Ngày Xanh III (2012)
 
https://www.facebook.com/groups/124948084959931/  
   
Advertisement  
   
=> Do you also want a homepage for free? Then click here! <=